Nằm cách trung tâm tỉnh Tuyên Quang khoảng 86 km về phía Tây Bắc, Kiên Đài sở hữu địa hình đồi núi hiểm trở, chia cắt bởi nhiều khe suối – một vị trí chiến lược để xây dựng các cơ sở bí mật. Giai đoạn 1947–1952, nơi đây đã trở thành tâm điểm của hoạt động sản xuất vũ khí phục vụ kháng chiến:

Di tích Địa điểm Xưởng Quân cơ giới Z1, thôn Vũ Hải Đường, xã Kiên Đài
Hệ thống Xưởng Quân giới Z1, Z2, Z3: Tại thôn Vũ Hải Đường, Xưởng Z1 từng là nơi sản xuất và sửa chữa từ súng cối, đạn cối 60 ly đến các loại súng đại liên, tiểu liên. Các xưởng Z2 và Z3 cũng hoạt động song song, tạo nên một dây chuyền hậu cần vũ khí quan trọng.

Di tích Địa điểm sản xuất vũ khí của xưởng Quân giới từ cuối năm 1948 đến tháng 10 năm 1949
Xưởng quân giới thôn Khun Mạ: Đây là nơi tổ chức sản xuất vũ khí và hoạt động xưởng quân giới trong thời gian từ cuối năm 1948 đến tháng 10 năm 1949, phục vụ trực tiếp cho yêu cầu chiến đấu của các đơn vị bộ đội trong điều kiện kháng chiến ác liệt.
“Lá chắn thép” bảo vệ Thủ đô kháng chiến
Bên cạnh sản xuất, Kiên Đài còn là một mạng lưới phòng thủ và hậu cần tinh vi để bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ:

Di tích chiến thắng Bản Heng, thôn Vũ Hải Đường, xã Kiên Đài
Trận địa phục kích Bản Heng: Tại đây, ngày 18/10/1947, một đại đội quân Pháp do Đại úy quan ba Keroaste chỉ huy, tiến công từ xã Chiêm Hóa lên với âm mưu phối hợp cùng cánh quân của Đại tá Commuynan ở Đài Thị (xã Yên Lập), tạo thế gọng kìm bao vây căn cứ địa Việt Bắc. Tuy nhiên, khi đến Bản Heng, địch đã vấp phải trận địa phục kích của Trung đoàn E79 (gồm khoảng 300 học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn-tiền thân của Trường Sĩ quan Lục quân 1) phối hợp với dân quân du kích địa phương. Trận đánh kết thúc thắng lợi, ta tiêu diệt 38 tên địch (trong đó có Đại úy Keroaste), làm bị thương 42 tên, buộc quân Pháp phải rút lui, từ bỏ ý định hợp quân tại Đài Thị. Chiến thắng Bản Heng là một trong những chiến công tiêu biểu, góp phần làm nên Chiến thắng Sông Lô, phá sản hoàn toàn âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp trong Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông năm 1947.

Di tích trạm gác của bộ đội và dân quân du kích tại thôn Nà Chám, xã Kiên Đài
Hệ thống bảo vệ mật danh: Từ Trạm gác của bộ đội và dân quân du kích tại thôn Nà Chám, xã Kiên Đài. Đây là nơi đặt trạm gác bảo vệ căn cứ địa An toàn khu Việt Bắc từ cuối năm 1950 đến năm 1952, góp phần giữ vững an ninh, an toàn cho các cơ quan Trung ương và tất cả tạo nên một vành đai an toàn tuyệt đối.
Hậu cần và nơi trú quân: Để duy trì sức chiến đấu, hệ thống kho cấp phát lương thực, quân trang tại thôn Khun Cúc đã được thiết lập. Đây là nơi cấp phát lương thực, thực phẩm và quân trang từ năm 1950 đến năm 1952, phục vụ cho một số cơ quan và đơn vị bộ đội đóng quân tại Kiên Đài, bảo đảm hậu cần cho hoạt động của Trung ương và lực lượng vũ trang tại An toàn khu Việt Bắc. Song song với đó, nhà ở của bộ đội tại thôn Làng Đài 1 chính là nơi dừng chân của các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ vòng trong cho các cơ quan đầu não. Sự hiện diện của những “doanh trại trong lòng dân” này minh chứng cho sự gắn kết mật thiết giữa quân và dân tại chiến khu.
Việc hệ thống hóa lại các di tích lịch sử gắn với lực lượng vũ trang và công nghiệp quốc phòng không chỉ là sự tri ân quá khứ. Đây là cơ sở để Kiên Đài phối hợp cùng Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng gìn giữ những “địa chỉ đỏ”, biến niềm tự hào lịch sử thành động lực giáo dục truyền thống và phát triển bền vững cho vùng đất cách mạng này. /.
Thực hiện: Hoàng Chinh